Đăng bởi: sanvuoncafe | Tháng Chín 20, 2008

Đi một quãng đường với thầy

19/09/2008 0:30

Giáo sư Hoàng Như Mai – Ảnh do GS Mai cung cấp
90 tuổi, thầy vẫn ở trên đường, đồng hành với sự nghiệp giáo dục – đào tạo, với tuổi trẻ. Đó là cách hiện diện của thầy trong cuộc sống này…

1. Năm 1993, vào dịp GS Hoàng Như Mai 75 tuổi, khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp TP.HCM có xin thầy cho phép công bố những bài thơ thầy viết từ mấy chục năm qua – những bài thơ vừa như lời tâm sự của một người trí thức vừa như lời chứng cho một thế hệ, mà nhiều lớp SV chỉ được truyền nhau qua các trang sổ tay chứ hầu như chưa đọc trực tiếp trên giấy in.

Được thầy Mai đồng ý, GS Nguyễn Lộc đã giao cho tôi chuẩn bị bản thảo. Công việc tưởng chừng đơn giản, nhưng khi đọc lại toàn bộ bản thảo, cảm nhận một nỗi buồn thế sự thấm đậm những trang thơ, cả thầy Lộc và tôi đều hơi lo. Đó là những năm hậu chiến hằn dấu vết gian khổ trong cuộc sống của từng người, cả trong Nam lẫn ngoài Bắc, và thầy Mai đứng trước một quyết định khó khăn: chuyển một nửa gia đình vào sống và làm việc ở Sài Gòn. Nhưng thầy Lộc và tôi không nói gì với thầy Mai, chỉ đưa bản thảo cho thầy đọc lại lần cuối. Không ngờ, là người nhạy cảm, nhìn thấy ở trang mục lục có mấy bài đánh dấu + bên cạnh nhan đề, thầy Mai hiểu ngay nỗi băn khoăn của chúng tôi và cuối cùng tập thơ đã không ấn hành với đầy đủ các bài thơ như tôi đã tập hợp ban đầu.

Vậy mà hôm tập thơ ra mắt ở Nhà văn hóa Lao Động, có ý kiến cho rằng tác giả viết rất nhiều bài thơ lạc quan, phấn chấn, nhưng người biên tập chỉ giữ lại những bài thơ buồn! Lúc đó cả thầy Mai và tôi đều thấy không cần thiết phải giải thích gì nữa, vì tập thơ đã ra đời rồi, nó sẽ tự giải thích cho chính nó. Riêng tôi, trong tâm trạng ray rứt và hối tiếc, tôi đã kịp làm photocopy những bài không đưa vào tập để lưu lại trước khi trả cho thầy bản gốc. Mới đó mà 15 năm đã trôi qua!

2. Thầy Hoàng Như Mai vào dạy ở TP.HCM lần đầu năm 1976, ngay sau khi chúng tôi học xong chương trình chính trị dành cho SV vùng mới giải phóng, chuẩn bị bước sang học chuyên môn. Đó là một lớp học khá đặc biệt: gần 320 người đang học dở dang các ban Triết học, Việt văn, Ngữ học, Hán văn, Báo chí… của các trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, Vạn Hạnh, Đà Lạt, Minh Đức… được chuyển về chung một lớp gọi là Ngữ văn bổ túc. Mọi cái ban đầu đều mới mẻ, xa lạ. Trong khi những thầy giáo cũ bận học chính trị và phải mấy năm sau một ít trong số đó mới được phép lên lớp, nhà trường đã ưu ái cho chúng tôi được học với những thầy giáo, cô giáo nhiều uy tín trong ngành ngữ văn ở miền Bắc, mà nay có những thầy đã ra người thiên cổ: Trần Đình Hượu, Hoàng Xuân Nhị, Nguyễn Đức Nam, Hoàng Tuệ, Nguyễn Hàm Dương, Đỗ Hữu Châu, Phan Cự Đệ… Cả Hoài Thanh và Chế Lan Viên, mỗi vị cũng đến dạy một chuyên đề 30 tiết.

Thầy Mai dạy văn học chống Pháp 1945-1954 là học phần có nhiều tác phẩm lạ lẫm so với sự tiếp nhận của chúng tôi, nhưng với giọng nói hào sảng và giọng đọc thơ truyền cảm của mình, thầy đã chinh phục tất cả. Hơn ba trăm người ngồi kín giảng đường 2, nơi ngày xưa Đông Hồ, Thanh Lãng từng giảng bài, bây giờ im phăng phắc nghe thầy Mai. Chúng tôi đã yêu Màu tím hoa sim, Đôi mắt người Sơn Tây; thầy làm cho chúng tôi yêu thêm Núi Đôi, Bên kia sông Đuống. Thầy biết chúng tôi chờ đợi những gì trong giai đoạn chuyển đổi còn nhiều hoang mang ấy.

“Bao nhiêu thăng trầm của một đời dạy văn, chưa thể nói là mình đã nếm đủ; nhưng trong những giờ phút khó khăn, ngả lòng, chúng tôi luôn có thầy bên cạnh…”. Huỳnh Như Phương

3. Quả thật chúng tôi cũng không ngờ là ngay trong năm đầu tiên ra trường, được may mắn làm việc với thầy Mai ở cùng một khoa, cùng một tổ bộ môn. Bao nhiêu thăng trầm của một đời dạy văn, chưa thể nói là mình đã nếm đủ; nhưng trong những giờ phút khó khăn, ngả lòng, chúng tôi luôn có thầy bên cạnh. Trước kia tôi chỉ thấy ở thầy một người nghệ sĩ ẩn bên trong một nhà giáo, nay tôi nhận ra ở thầy một nhà hoạt động văn hóa và xã hội nhạy bén, khoan hòa và mẫn tiệp.Ngay cả khi đã về hưu, thầy vẫn là điểm tựa, là tâm điểm thu hút mọi người, vượt qua những cách biệt về nguồn đào tạo, về quan điểm học thuật, cùng ngồi lại bên nhau vì sự nghiệp ngữ văn. Khi mới vận động thành lập Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học, thầy đích thân đến mời GS Thanh Lãng tham gia ban chấp hành. Thầy giữ một mối thâm tình tri kỷ với GS Giản Chi, ni sư Huỳnh Liên, nhà văn Võ Hồng… khoảng giữa những năm 90, ngành Hán Nôm èo uột và teo tóp, có năm không mở lớp được vì không có SV theo học. Tôi đến xin ý kiến thầy, nhờ thầy cùng thầy Nguyễn Khuê chủ trì cuộc hội thảo tìm giải pháp vực dậy bộ môn này. Khi soạn lời đúc kết hội thảo, bên cạnh chủ trương cải tiến chương trình và phương pháp, đào tạo lực lượng giảng viên trẻ, cấp học bổng cho SV, xây dựng phòng tư liệu…, tôi viết: “Duy trì bộ môn Hán Nôm…”. Thầy xem và sửa lại ngay: “Củng cố và phát triển bộ môn Hán Nôm”. Sau hơn mười năm, bây giờ về chất lượng đào tạo và đội ngũ kế thừa, có lẽ đó là một trong những bộ môn vững vàng nhất của khoa.

Nhiều lần đến thăm thầy, thấy cảnh nhà đơn chiếc, tuổi thầy ngày càng cao, tôi thầm muốn xin thầy giảm bớt công việc, dành thì giờ viết hồi ký. Nhưng tôi chợt nghĩ, nếu lui về an hưởng cảnh nhàn thì thầy Mai có còn là thầy Mai nữa không?

Huỳnh Như Phương

Theo Thanhnien


Chuyên mục